Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

LỌC HEPA LÀ GÌ? CÁCH DÙNG LỌC HEPA

DÙNG LOẠI LỌC NÀO TRƯỚC LỌC HEPA

Nên dùng những loại lọc nào lắp trước lọc HEPA để bảo vệ tốt cho lọc hepa? Đây là một trong nững câu hỏi thường gặp đối với những ai đang thiết kế một hệ thống lọc gió cho nhà máy. Sau đây xin được giới thiệu số màng lọc khí lắp phía trước để bảo vệ tốt cho lọc HEPA. Thế vì sao tấm lọc khí HEPA cần được bảo vệ?, ta nên tìm hiểu trước tiên lọc HEPA là gì?

Lọc HEPA là gì?

HEPA có nghĩa là: Hạt không khí hiệu năng cao và là một công nghệ được phát triển bởi Ủy ban năng lượng nguyên tử Mỹ trong suốt những năm 1940 với mục đích tạo ra một phương pháp lọc hiệu quả các hạt phóng xạ gây ô nhiễm. HEPA là một phương pháp lọc rất hiệu quả, cái mà các hạt được lấy bằng kính hiển vi từ không khí xung quanh khi nó đi qua bộ lọc HEPA. Vùng bộ lọc HEPA với nhiều hiệu quả phụ thuộc vào kích thước của các hạt. Hiệu năng lọc không khí của bộ lọc HEPA đạt đến 99,97% các hạt và chỉ cho phép các hạt có kích thước 0,3 micron hoặc nhỏ hơn đi qua bộ lọc. Bộ lọc không khí HEPA không thể loại bỏ khí ga hóa học từ không khí.

            Lọc HEPA là một trong những lọc có cấp độ lọc tinh nhất, là thiết bị lọc tinh cuối cùng trong dây chuyền lọc khí cho phòng sạch. Lọc hepa có thường có 2 loại:

            Loại 01: Loại Mini pleat HEPA, loại này kiểu chia gió là nếp giấy thường thì độ dày từ 35 – 90mm

            Loại 2: Loại seperator HEPA, loại này thường là loại có độ dày lớn từ 100 – 292mm, kiểu chia gió là vách nhôm

            Về hiệu xuất lọc thì cơ bản hai loại này hiệu xuất lọc như nhau (lưu lượng trung bình thì: 99,97%, lưu lượng cao thì 99,99% - 99,995% với cỡ hạt bùi là 0,3micron).

Vì sao cần bảo vệ lọc HEPA

Như trên chúng ta đã thấy được lọc HEPA là loại lọc tinh với cỡ hạt rất nhỏ 0,3mcron, hơn nữa giá thành cho lọc HEPA là tương đối cao so với với những loại lọc thô, lọc sơ bộ đơn thuần khác. Vì vậy chúng ta cần những thiết bị lọc bụi thô, lọc sơ bộ khác với giá thành rẽ hơn để lọc những hạt cặn thô trước khi vào lọc hepa.

Sơ độ lọc: Tấm lọc bụi sơ bộ -----Lọc trung gian (túi lọc khí) -------Lọc HEPA H13

Những loại tấm lọc sơ bộ và lọc trung gian nào thường được sử dụng.

Tấm lọc sơ bộ: lọc bụi sơ bộ có rất nhiều loại khác nhau nhưng cơ bản là ứng dụng như nhau, cấp độ lọc như nhau. Vật liệu lọc thường làm bằng sợi tổng hộp (bông lọc bụi), thường chia ra chia ra 3 cấp độ lọc như sau:

Cấp độ lọc G2: cấp độ lọc này có hiệu cuất từ 70 – 75%

Cấp độ lọc G3: cấp độ này có hiệu xuất từ 80 – 85%

Cấp độ lọc G4: cấp độ này có hiệu xuất từ 90 – 92%

3 loại này chúng ta nên dùng tấm lọc bụi G4, hiệu quả lọc cao mà giá thành không cao hơn nhiều so với loại G2 và G3.

Lọc trung gian (túi lọc khí): Lọc trung gian là lọc có kích cỡ lọc tinh hơn lọc sơ bộ nhưng thấp hơn lọc HEPA.

Với lọc trung gian trong giây chuyền lọc thường dùng túi lọc khí, loại này chia ra nhiều cấp độ lọc khác nhau:

Túi lọc khí F5: Cấp độ lọc từ 60 – 65%

Túi lọc khí F6: Cấp độ lọc từ 70 – 75%

Túi lọc khí F7: Cấp độ lọc từ 80 – 85%

Túi lọc khí F8: Cấp độ lọc từ 90 – 95%

Như vậy để bảo vệ tốt cho lọc hepa và cho phòng sạch được hiệu quả ta nên lắp lọc theo sơ đồ: Sơ độ lọc: Tấm lọc bụi sơ bộ -----à Lọc trung gian (túi lọc khí)-------à Lọc HEPA H13
- See more at: http://loccongnghiep.com.vn/thao-luan/thao-luan-loc-khi/loc-hepa-la-gi-cach-dung-loc-hepa.html#sthash.7fxqkt5e.dpuf

Bông lọc bụi khí G4

Chúng tôi chuyên sản xuất và phân phối trên toàn quốc về Tấm lọc bụi khí, Bông lọc bụi 20mm (Bông lọc khí G4) với giá cạnh tranh nhất hiện nay. Bông lọc bụi 20mm (Bông lọc bụi G4) có hiệu suất lọc 90 - 95% theo tiêu chuẩn EN 779. Với đặc tính Bền, dai, chịu được nhiệt độ 100oC, Bông lọc G4 luôn được ưa chuộng sử dụng trong các ngành sản xuất đòi hỏi mức độ lọc bụi thô rất sạch. Mọi chi tiết về Bông lọc bụi dày 20mm vui lòng liên hệ với công ty chúng tôi để biết thêm chi tiết về sản phẩm.

Như các bạn đã biết, Trong các loại Bông lọc bụi khí thì Bông lọc bụi(khí) G4 có độ dày là 20mm, quý khách cắt sản phẩm ra rồi lắp vào khung có sẵn, rất tiện lợi trong việc thay thế, sản phẩm có thể tái sử dụng bằng cách hút sạch bụi bám trên tấm lọc bụi khí hoặc có thể giặt rửa bình thường, ngoài ra còn có loại bao gồm cả khung lẫn vật liệu Bông lọc bụi G4 (Gọi tắt là Khung lọc bụi G4), sau đây chúng tôi sẽ mô tả chi tiết về sản phẩm để các bạn tiện theo dõi, ngoài ra các ứng dụng của nó trong lọc công nghiệp sẽ được chỉ dẫn ở dưới đây:

Tên sản phẩm: Bông lọc bụi khí G4 - EN 779 (Dạng cuộn bông lọc bụi G4)
Chất liệu: Sợi tổng hợp Polyeste
Khổ: 2m x 20m
Độ dày: 20mm
Tiêu chuẩn: G4 - EN 779
Lưu lượng: 5400m3/h/m2
Màu sắc: Màu trắng
Áp suất đầu: 42Pa
Áp suất thay thế: 250Pa
Nhiệt độ giới hạn: 100oC
Tình trạng: Hàng mới 100% (Có sẵn)
Xuất xứ: Việt Nam
Dạng Panel: Kích thước theo yêu cầu (Dạng Khung lọc khí G4 có vật liệu khung Nhôm, chắc chắn, chống tĩnh điện, phù hợp với môi trường sản xuất có nhiều bụi, độ ẩm, nhiệt độ 100oC)

Bông lọc bụi khí G4, Tấm lọc bụi khí G4, Bông lọc 20mm
Chúng tôi tự hào là nhà sản xuất lọc bụi hàng đầu tại Việt Nam với dây chuyền sản xuất hiện đại và cao cấp được nhập từ nước ngoài về. Vì vậy nguồn gốc rõ ràng. Sản phẩm đảm bảo chất lượng và yêu cầu kỹ thuật khắt khe của các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Về ứng dụng thì đã rõ, sản phẩm được lắp đặt sử dụng trong việc lọc bụi sơn, lọc bụi điều hòa, lọc bụi phòng sạch, lọc khí thông gió nhà xưởng,...Thời gian sử dụng của bông lọc bụi thì tùy vào môi trường trong công ty, nhà máy và tiêu chuẩn khí của công ty đó, lượng bụi nhiều hay ít, công suất của máy như thế nào? Thông thường bông lọc bụi G4 có thời gian sử dụng là 3 tháng nếu sử dụng trong điều kiện tốt có thể lên đến 6 tháng đến 1 năm.
Ngoài ra, còn có các loại Bông lọc bụi G1, Bông lọc khí G2, Tấm lọc bụi không khí G3. Quý khách cần thông tin thêm xin vui lòng liên hệ trực tiếp với công ty để được sự hỗ trợ tốt nhất. Xin cảm ơn quý khách!

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Sản xuất sạch hơn tại tỉnh Bến Tre

Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với diện tích 2.321,6 km², Bến Tre được biết đến là vùng sông nước trù phú, nổi tiếng bởi cây dừa, các sản phẩm từ dừa và có thế mạnh là nuôi trồng thủy sản. Trong những năm trở lại đây, cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và thương mại dịch vụ. Tính đến năm 2011, trên toàn tỉnh đã có hơn 3000 doanh nghiệp đăng ký, trong đó có 142 doanh nghiệp/cơ sở sản xuất công nghiệp theo danh sách quản lý của Sở Công Thương.

Bến Tre là một trong 5 tỉnh mục tiêu được Hợp phần sản xuất sạch hơn (SXSH) trong công nghiệp (CPI) - Bộ Công Thương lựa chọn tham gia vào việc thực hiện các mô hình trình diễn SXSH. Từ năm 2008 tới nay, tỉnh đã có rất nhiều hoạt động thiết thực nhằm áp dụng SXSH trong công nghiệp như: Xây dựng các văn bản pháp lý đẩy mạnh thực hiện SXSH trong công nghiệp; Đào tạo, phổ biến thông tin và nâng cao năng lực nhận thức về SXSH; Hỗ trợ trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh; và đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực về SXSH thông qua các khoá đào tạo, tập huấn

Công tác xây dựng các văn bản pháp lý đẩy mạnh áp dụng SXSH trong công nghiệp

Trong năm 2007, Sở Công Thương tỉnh Bến Tre đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch về việc áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong năm 2007. Sau đó, năm 2008 và 2009, theo nhiệm vụ được giao bởi UBND tỉnh, Sở Công Thương xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc áp dụng SXSH cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cho đến nay, 3 văn bản quan trọng trong việc thúc đẩy áp dụng SXSH tại địa bàn tỉnh đã được ban hành, đó là:


Hội thảo trình bày việc xây dựng văn bản
pháp lý

Kế hoạch số 3800/KH-UBND ngày 10/10/2007 về việc thực hiện áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch số 05/KH-SCN ngày 15/01/2008 về việc tổ chức triển khai áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh; và
Kế hoạch hành động sản xuất sạch hơn trong công nghiệp của tỉnh Bến Tre năm 2009-2013, ban hành ngày 20/10/2009.

Theo Kế hoạch số 3800/KH-UBND ngày 10/10/2007, Sở Công Thương được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối cấp tỉnh, có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường để lập kế hoạch tổ chức thực hiện việc áp dụng SXSH cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ở cấp huyện, UBND các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng Kinh tế, Phòng Công Thương, Phòng Tài nguyên và Môi trường tổ chức triển khai thực hiện.

Cũng trong năm 2007, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre đã thực hiện Chương trình “Áp dụng SXSH và tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp trọng điểm của tỉnh" bao gồm ngành sản xuất đường, chế biến dừa và thủy sản. Tuy nhiên, do khó khăn về kinh phí nên chỉ mới thực hiện được ở 03 đơn vị: Doanh nghiệp tư nhân Kẹo dừa Thiên Long, cơ sở Thạch dừa Minh Châu và nhà máy chế biến thủy sản Ba Lai.

Theo Kế hoạch hành động sản xuất sạch hơn trong công nghiệp của tỉnh Bến Tre năm 2009-2013, tỉnh đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2013 là giảm nguyên liệu đầu vào 10%, giảm 15% tổng lượng phát thải tính trên đơn vị sản phẩm, giảm chất thải 20% trong một số công nghiệp nói chung và cụ thể trong một số ngành như chế biến dừa, chế biến thuỷ sản, các khu cụm CN, làng nghề; 60% doanh nghiệp và các cấp quản lý được tập huấn nâng cao năng lực về SXSH. Kế hoạch hành động này có ý nghĩa thiết thực nhằm triển khai thực hiện Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 07/09/2009.

Công tác triển khai đào tạo, phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức về SXSH



Hội thảo phổ biến SXSH tại tỉnh Bến Tre

Từ năm 2008 đến tháng 5/2011, Sở Công Thương/Trung tâm Khuyến công tỉnh Bến Tre đã tổ chức 05 lớp tập huấn, hội thảo, đào tạo về SXSH trong công nghiệp cho gần 400 lượt cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, các doanh nghiệp sản xuất tại địa phương nhằm phổ biến kiến thức về SXSH rộng khắp trên địa bàn tỉnh. Các chương trình đào tạo tập huấn còn được xây dựng phù hợp với từng loại đối tượng, giúp mỗi đối tượng có thể tiếp thu và nắm bắt những thông tin thiết thực cho công tác của mình.

Bên cạnh việc tổ chức Hội thảo và các khóa tập huấn, Sở Công Thương Bến Tre cũng đã xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông về SXSH trên các phương tiện thông tin đại chúng. Từ tháng 7 năm 2009, Sở đã cho in ấn một số tờ rơi tuyên truyền về SXSH và phát rộng rãi đến các doanh nghiệp. Các bài báo tuyên truyền về SXSH cũng đã được đăng trên báo Đồng Khởi từ tháng 8/2008. Sở cũng đã sản xuất 04 phim ngắn tuyên truyền về SXSH (1 phim trong năm 2008 và 3 phim trong năm 2009), đã được phát trên đài truyền hinh địa phương từ tháng 12/2008.

Hỗ trợ trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh




Hoạt động sản xuất tại Công ty

TNHH Thanh Bình

Đến nay, trên toàn tỉnh đã có 06 doanh nghiệp và 01 làng nghề được Hợp phần CPI hỗ trợ thực hiện mô hình trình diễn SXSH, đó là Công ty CP mía đường Bến Tre,Nhà máy chế biến dừa Thành Vinh, Công ty thuốc lá Bến Tre, Công ty TNHH Thanh Bình, DNTN Lâm Đồng, Công ty TNHH Vĩnh Tiến và làng nghề chế biến thủy sản xã Bình Thắng.

Sở Công Thương Bến Tre đã phối hợp với chuyên gia tư vấn đánh giá cơ hội và tiềm năng áp dụng SXSH tại các doanh nghiệp này sau đó tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện SXSH qua sự hỗ trợ về mặt tài chính của Hợp phần CPI - Bộ Công Thương.

Trong năm 2010, Bộ Công Thương đã thực hiện chương trình điều tra cơ bản về tình hình SXSH tại 53 tỉnh thành trong cả nước. Bến Tre cũng là một trong những tỉnh mục tiêu được tập trung khảo sát. Qua đó cho thấy, trên toàn tỉnh hiện có 50 doanh nghiệp có nhận thức về SXSH, 16 doanh nghiệp đã áp dụng SXSH vào thực tiễn sản xuất và quản lý môi trường, số doanh nghiệp giảm trên 5% tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm là 6 đơn vị.

Kết quả khảo sát tại tỉnh Bến Tre có thể tham khảo tại đây

Đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực về SXSH thông qua các khoá đào tạo, tập huấn



Các học viên của lớp tập huấn đi tham quan
tại doanh nghiệp

Hiện tại Sở Công Thương Bến Tre đang có 15 cán bộ có hiểu biết về SXSH, trong số đó có 3 cán bộ có khả năng hướng dẫn DN, 11 cán bộ có khả năng phổ biến và 01 cán bộ có thêm năng lực đào tạo SXSH cho các doanh nghiệp.

Trong năm 2009 và 2010, Sở Công Thương Bến Tre đã liên tục cử cán bộ Sở tại tham gia các khóa đào tạo tư vấn (2 cán bộ) và giảng viên hướng dẫn SXSH (2 cán bộ) do Hợp phần CPI tổ chức.

Cán bộ đầu mối SXSH là ông Trần Văn Đấu - Phó giám đốc Sở Công Thương.

Với sự hỗ trợ từ Hợp phần CPI - Bộ Công Thương, Sở Công Thương Bến Tre đã từng bước nâng cao năng lực của mình và đẩy mạnh việc phổ biến, triển khai thực hiện SXSH trên địa bàn, góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất và giảm phát thải ra môi trường, cải thiện điều kiện lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh./.

Kế hoạch hành động về SXSH

Căn cứ vào Chỉ thị số 08/CT-BCN ngày 10 tháng 7 năm 2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc áp dụng SXSH trong các cơ sở công nghiệp và Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp của Thủ tướng chính phủ, Bộ Công Thương đã yêu cầu các Sở triển khai xây dựng Kế hoạch hành động SXSH trong Công nghiệp của địa phương.

Theo đó, các Sở Công thương đã và đang xây dựng kế hoạch hành động nhằm thực hiện các mục tiêu chung như: Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường do các hoạt động công nghiệp; Nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ sạch; Tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường (BVMT); Thúc đẩy áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp.

Danh sách 20 bản dự thảo và 8 bản chính thức kế hoạch hành động về SXSH của các tỉnh có thể tải về tại đây:
Kế hoạch hành động về SXSH tại các tỉnh thành 
1.An Giang (dự thảo)8.Đồng Tháp15.Khánh Hòa (dự thảo)22.Sóc Trăng 
2.Bắc Giang (dự thảo)9.Đắk Lắk16.Long An (dự thảo)23.Tiền  Giang
3.Bến Tre (dự thảo)10.Đắk Nông (dự thảo)17.Nghệ An24.Thanh Hóa (dự thảo)
4.Bình Định11.Gia Lai (dự thảo)18.Ninh Thuận (dự thảo)25.Thái Nguyên (dự thảo)
5.Bình Phước (dự thảo)12.Hà Nội19.Phú Thọ (dự thảo)26.Thái  Bình (dự thảo)
6.Cà Mau13.Hà Tĩnh
20.Quảng  Nam27.Yên Bái (dự thảo)
7.Đồng  Nai (dự thảo)14.Hải Dương (dự thảo)21.Quảng Trị (dự thảo)28. Bà Rịa - Vũng Tàu (dự thảo)
 29. Vĩnh Long   

Các kế hoạch hành động sẽ được cập nhật liên tục tiếp theo đây.

Sản xuất sạch hơn trên toàn quốc

10 năm vừa qua, công tác triển khai áp dụng SXSH tại Việt Nam đã có được những thành công đáng kể. Mặc dù vậy, việc triển khai SXSH vào thực tiễn quản lý môi trường trong công nghiệp vẫn còn rất nhiều tồn tại và thách thức. Bài viết này trình bày tổng quan tình hình triển khai SXSh trên phạm vi toàn quốc trong thời gian vừa qua


Từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011, Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp (CPI) đã thực hiện khảo sát số liệu nền cho các mục tiêu trong chiến lược sản xuất sạch hơn với 63 Sở Công Thương và 9012 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc và thu được kết quả như sau:

Mục tiêu chiến lượcMục tiêu giai đoạn   Hiện trạng 2010 
 2010-2015 2016-2020
Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp có nhận thức về sản xuất sạch hơn            50%90%28%
Tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn giảm được tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm    25%50%11%
 Mức độ giảm năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm     5-8%8-13% Đa dạng
Tỷ lệ doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận chuyên trách về hoạt động sản xuất sạch hơn        90%-
 Tỷ lệ Sở Công Thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn sản xuất sạch hơn cho công nghiệp    70%90%18%



Về việc đáp ứng mục tiêu 1 của chiến lược: Tỷ lệ cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức về SXSH

Tính đến thời điểm khảo sát, có 2509 doanh nghiệp, tương ứng 28% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc có nhận thức về SXSH với mức độ nhận thức khác nhau, từ việc nghe nói đến SXSH và nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích song hành kinh tế và môi trường của SXSH đến việc thực hiện áp dụng SXSH và đáp ứng mục tiêu chiến lược.

So với mục tiêu chiến lược, có 10 tỉnh có trên 50% doanh nghiệp khảo sát có nhận thức về SXSH, gồm: Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Nam, Quảng Bình, An Giang, Bến Tre, Nghệ An, Lào Cai, Phú Thọ và Cần Thơ. Số liệu của tỉnh Đồng Nai quá hạn chế để đánh giá trong khảo sát này. Các tỉnh Đồng Tháp, Sơn La, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Gia Lai, Yên Bái, Trà Vinh, Ninh Bình và Vĩnh Long có tỷ lệ nhận thức về SXSH gần sát mục tiêu chiến lược (trên 40%).

Sản xuất sạch hơn được biết đến tại hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp. Có 8 ngành sản xuất có trên 100 doanh nghiệp nhận thức về SXSH là dệt may, rau quả nông sản, mỏ và khai khoáng, xi măng-gạch-gốm, thủy sản, thực phẩm khác, gỗ-tre-nứa và nhựa-cao su.

Về việc đáp ứng mục tiêu 2 của chiến lược: Tỷ lệ cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng SXSH và kết quả

Tính đến thời điểm khảo sát có 1031 doanh nghiệp, tương ứng 11% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc có áp dụng SXSH, trong đó 309 doanh nghiệp, tương ứng 3% doanh nghiệp khảo sát thu nhận được mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu giảm 5-8% (mục tiêu chiến lược giai đoạn 1).

Có 7 tỉnh, thành phố đáp ứng được mục tiêu 25% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn, gồm: An Giang, Quảng Bình, Ninh Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội và Thái Nguyên.

Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi và thu được kết quả giảm trên 5% tiêu thụ nguyên nhiên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm tại hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp. Dệt may và xi măng-gạch-gốm có số lượng doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn lớn nhất (84 doanh nghiệp mỗi ngành), trong đó số lượng đạt mức tiêu thụ giảm nguyên nhiên liệu trên 5% tại 2 ngành này là 16 và 36.

Số liệu thu nhận được của Đồng Nai là rất hạn chế để đưa ra nhận định về hiện trạng hiểu biết và triển khai áp dụng SXSH tại tỉnh này.


Về việc đáp ứng mục tiêu 3 của chiến lược: Tỷ lệ các Sở Công Thương có cán bộ có năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH

Tính đến thời điểm khảo sát, có 12 Sở Công Thương có cán bộ có đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH, 50 Sở Công Thương có cán bộ có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH và 1 Sở Công Thương chưa xác định được năng lực SXSH.

Các Sở Công Thương có cán bộ có đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH là Hà Nội, Bến Tre, Phú Thọ, Quảng nam, Thái Nguyên, Hải Phòng, An Giang, Cần Thơ, Long An, Nghệ An, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đăk Lăk.

Trong số 50 Sở Công Thương có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH, Sở Công Thương Vình Phúc chỉ có năng lực phổ biến, chưa có cán bộ có năng lực đào tạo SXSH.

Sở Công Thương chưa xác định được năng lực SXSH là Bình Phước do chưa đánh giá được năng lực cán bộ có hiểu biết về SXSH.

Phần lớn các Sở Công Thương có cán bộ có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH do hoạt động đào tạo giảng viên cho các Sở Công Thương năm 2010 của Hợp phần SXSH trong Công nghiệp thực hiện.

Toàn quốc có 390 cán bộ Sở Công Thương có hiểu biết về SXSH thông qua các kênh hội thảo, đào tạo hoặc thông tin đại chúng. Trong số đó, số cán bộ Sở Công Thương có khả năng hướng dẫn áp dụng SXSH còn hạn chế (17 người). Có nhiều Sở Công Thương chỉ có 1 cán bộ có năng lực hướng dẫn hoặc tuyên truyền/đào tạo về SXSH.

Chiến lược SXSH trong công nghiệp





Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò cấp thiết của SXSH trong công nghiệp, ngày 07/9/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1419/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020". Quyết định này đã nêu ra những chỉ tiêu, lộ trình cụ thể và những dự án mà các Bộ, ngành địa phương cần phải làm để thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng SXSH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; Giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo đảm phát triển bền vững.


Mục tiêu của chiến lược đặt ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 là 50% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH trong công nghiệp; 25% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụng SXSH và những cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng SXSH sẽ tiết kiệm được từ 5 đến 8% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm. Ngoài ra, 70% các sở công thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH trong công nghiệp.

Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, mục tiêu của chiến lược là đưa 90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH trong công nghiệp. Đồng thời, 50% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụng SXSH và những cơ sở áp dụng SXSH sẽ tiết kiệm được từ 8 đến 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu/đơn vị sản phẩm. Ngoài ra, 90% doanh nghiệp vừa và lớn sẽ có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch hơn. Cũng trong giai đoạn này, mục tiêu của Chiến lược là 90% các sở công thương sẽ có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược, Bộ Công Thương đã thành lập ngay Ban điều hành, Văn phòng giúp việc và khởi động xây dựng thông tư hướng dẫn quản lý kinh phí, xây dựng khung các đề án.

Trong năm 2010, với sự hỗ trợ của Văn phòng giúp việc Chiến lược, Bộ Công Thương sẽ tập trung triển khai nội dung của 5 đề án và đã bố trí nguồn kinh phí để thực hiện đó là:

Nâng cao nhận thức và năng lực áp dụng SXSH trong công nghiệp;
Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu và trang thông tin điện tử về SXSH trong công nghiệp;
Hỗ trợ kỹ thuật về áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp;
Hoàn thiện mạng lưới các tổ chức hỗ trợ SXSH trong công nghiệp; và
Hoàn thiện các cơ chế chính sách về tài chính thúc đẩy áp dụng SXSH trong công nghiệp.

Để chiến lược đạt được những kết quả tốt nhất, Bộ Công Thương và Hợp phần SXSH trong công nghiệp sẽ hỗ trợ cho các địa phương dưới các hình thức như sau: tổ chức đào tạo cho các cán bộ của Sở và Trung tâm khuyến công về SXSH theo nhu cầu; Hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật để xây dựng kế hoạch hướng dẫn về SXSH cho các cơ sở công nghiệp trên địa bàn cũng như đề án thành lập các đơn vị hỗ trợ SXSH tại các Trung tâm khuyến công.

Đặc biệt, đối với công tác truyền thông, các địa phương sẽ được hỗ trợ kinh phí để in tờ rơi, làm phim, tổ chức các hội thảo cũng như các khoá đào tạo về SXSH cho các cơ sở công nghiệp trong tỉnh. Ngoài ra, các Trung tâm khuyến công cũng sẽ được hỗ trợ kinh phí để tổ chức đánh giá SXSH cho các cơ sở công nghiệp.
Bên cạnh những nội dung đó thì hàng năm Bộ Công Thương tổ chức đăng ký kinh phí thực hiện các đề án Chiến lược SXSH tại Bộ Tài chính và sẽ nhận đăng ký của các Sở và Trung tâm khuyến công để văn phòng giúp việc của ban điều hành chiến lược có kế hoạch xây dựng cơ chế hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật.

MÁY NÉN KHÍ TRỤC XOẮN KHÔNG DẦU

CÁC TÍNH NĂNG

-  Chỉ được thiết kế dùng trong y tế
-  Thiết kế bên ngoài đơn giản
-  Độ ồn và rung rất thấp 
-  100% không khí không có dầu
-  Không gian lắp đặt nhỏ
-  Dễ dàng trong công tác bảo trì
CẤU TẠO
1.Xi lanh máy nén
2.Motor
3.Bộ tiêu âm
4.Bình chứa
5.Bệ
THỐNG SỐ KỸ THUẬT

Bộ lọc khí nén y tế

Không khí y tế từ các ống dẫn thường đôi khi có chứa ẩm và các hạt tạp chất hoặc khí độc. Khi đó, không chỉ thiết bị mà sức khỏe của bệnh nhân cũng bị ảnh hưởng xấu. Thiết bị MAU III mà chúng tôi đưa ra ở đây sẽ cung cấp không khí sạch, tinh khiết chất lượng cao.Tất cả các máy sấy và máy lọc phù hợp đã được đưa vào 1 cách hợp lí và tối ưu hóa. 
CÁC TÍNH NĂNG

1.Loại bỏ hơi nước với nhiệt độ đọng sương thấp hơn -18.2 độ C.
2.Loại bỏ các hạt có kích thước hơn 0.01x10^-6m.
3.Loại bỏ các hạt dầu.
4.Dễ bảo trì.
5.Không lỗi kĩ thuật.
6.Cài đặt đơn giản nhanh chóng.
7.Chế độ đơn công và song công
1.Đầu vào không khí
2.Áp kế đầu vào
3.Van ngắt chuyển đổi
4.Ống hãm
5.Bộ lọc sương 0.3micrometer
6.Bộ vi lọc sương 0.01micrometer
7.Máy sấy dùng màng
8.Bộ điều chỉnh
9.Bộ lọc carbon 0.01micrometer
10.Van ngắt đường ống chính
11.Van bảo trì của cảm biến điểm đọng sương
12.Cáp kết nối của cảm biến điểm đọng sương
13.Áp kế đo nguồn cấp
14.Đầu ra không khí
15.Máng
16.Cảm biến điểm đọng sương
THÔNG SỐ KỸ THUẬT

SƠ ĐỒ

HỆ THỐNG NÉN KHÍ THIẾT KẾ ĐẦY ĐỦ

MÁY NÉN KHÍ KHÔNG DẦU


Được thiết kế để cung cấp khí sạch, khí không dầu cho bệnh viện, khoa lâm sàng, phòng xét nghiệm. Với việc kết hợp của các lớp làm sạch khí và các bộ điều khiển tự động sẽ làm khô hoàn toàn và loại bỏ các vi khuẩn, không khí sẽ được cung cấp cố định ở 0.4MPa trong đường ống. Có 8 loại từ 0.75kw tới 15kw thường được sử dụng. Một Loại phù hợp sẽ được lựa chọn dựa vào nhu cầu của khách hàng.
 
Đặc điểm


•Mỗi bộ nén khí được lắp ráp hoàn toàn với các khối motor/ nén khí được gắn vào một bình chứa khí
•Các giá được bọc kín có chứa dầu không yêu cầu tra thêm dầu. các bộ phận tách dầu cũng được hạn chế
•Được thiết kế để tối thiểu việc bảo dưỡng và tuổi thọ cao với các van đậy và khí làm bằng thép không gỉ loại mới
•Bộ phận làm mát được cải tiến với hiệu ứng làm mát cao đã nâng cao công suất khí nén
•Khí trong bộ giảm thanh hạn chế được tiếng ồn ở các cổng.

Chú ý


•Bắt đầu chạy: khối  nén phải được giữ mức và motor phải được quay theo hướng mũi tên được đánh dấu,
•Kiểm tra hàng ngày: xả bình chứa khí. Kiểm tra chức năng của van bảo vệ, van điều chỉnh và đồng hồ áp suất. các âm thanh và tiếng động bất thường cũng phải được kiểm tra hàng ngày
•Sau 250 giờ hoạt động hoặc 1 tháng: vặn chặt bulong, ốc và các nut. Kéo căng các dây cua roa  bị chùng, hoặc thay thế cái mới nếu cần.làm sạch hoặc thay các bộ lọc.
•Sau 3000 giờ hoạt động hoặc 1 năm: piston ring, rider ring, van khí, quạt thông gió, van cách điện (hoặc unloader piston) sẽ được kiểm tra hoặc thay thế nếu cần. không bao giờ được sử dụng chúng quá 6000 giờ làm việc.
•Các bộ đại tu và các bộ lọc có sẵn nếu yêu cầu, hoặc liên hệ với nhà phân phối gần nhất để có được dịch vụ sửa chữa.
1.Compressed                  2.Mô tơ             3.Bộ giảm thanh
4.Bình chứa khí nén          5.Đế
 
Thông số kỹ thuật

 
 
BỘ SỬ LÝ KHÍ Y TẾ

 
Khối này cho phép làm khô, loại bỏ vi khuẩn và giảm bớt áp suất của khí nén để cung cấp khí y tế sạch cho các khu vực điều trị. Khối này bao gồm bộ làm khô khí kiểu làm lạnh, một bộ các bộ lọc khí với các bộ lọc loại bỏ nước, bụi,vi khuẩn  và bộ điều chỉnh áp suất khí.
 
 
Đặc điểm

 
•Với bộ làm khô khí kiểu ướp lạnh, làm khô tới 95% và điểm sương là -17oC tại áp suất khí quyển được thực hiện.
•Một loạt bộ lọc và bộ tiền lọc sẽ loại bỏ hoàn toàn các hạt bụi kích thước nhỏ và vi khuẩn (3~0.01 μm). Bộ lọc cuối carbon đã được hoạt hóa hấp thụ dầu và mùi hôi.
•Bộ giảm áp điều chỉnh áp suất khí tới một áp suất cố định là 0.4MPa.
•Trong khối khí y tế hai đường như ở dưới, một đường sẽ được sử dụng làm đường chính. Đường còn lại được sử dụng làm đường dự phòng thay phiên nhau.
•Khối khí y tế 1 đường cũng có sẵn. trong trường hợp này, đường dự phòng chỉ có một bộ điều áp khí giữa các van dừng.
 
 

1.Bộ làm khô khí (tách nước)2.Bộ lọc khí3.Bộ tiền lọc
4.Bộ điều áp5.Bộ lọc cuối6.Đồng hồ áp suất khí vào
7.Đồng hồ áp suất khí cung cấp8.Van dừng đường chính9.Van dừng đường phụ
10.Đầu ra khí11.Đầu vào khí12.Van xả

 Thông số kỹ thuật

 
 
TỦ ĐIỀU KHIỂN 

 


Mục đích của tủ điều khiển là để điều khiển bộ nén khí cho việc chạy xen kẽ tự động ở lúc tiêu thụ bình thường và chạy song song tự động tại điểm yêu cầu.
Hệ thống được thiết kế như một bộ nén khí thường xuyên và một bộ nén chờ lần lượt chạy ở 0.5MPa và dừng ở 0.7MPa, nhưng với những yêu cầu cao, bộ chờ chạy song song với một bộ hoạt động thường xuyên tại 0.45 MPa và dừng ở 0.7MPa.
 
 
Đặc điểm


•Đèn báo trạng thái chạy/ dừng: để nhận biết là đang chạy hay dừng
•Đèn báo trạng thái quá tải (tùy chọn): để chỉ ra điều kiện bất thường của bộ nén khí và motor. Có thể mở rộng cho một bảng đèn cảnh báo.
•Đồng hồ đo thời gian chạy:để ghi lại giờ làm việc của máy nén
•Công tắc chọn chế độ tự động/ bằng tay: để chọn chế độ cho máy nén
1. Đèn nguồn
2. Đèn trạng thái máy nén
3. Ampe kế motor máy nén
4. Công tắc lựa chọn
5. Đồng hồ đo thời gian chạy (tùy chọn)
 
Thông số kỹ thuật


 
 BỘ LÀM MÁT

 
Bộ làm làm mát sẽ làm mát khí nén bị nóng từ máy nén khí tới dưới 40oC và giảm hơi ẩm trong khí nén. Nước ngưng tụ được đưa ra có chu kì hoặc tự động. loại quạt làm mát sau các bộ làm mát tránh được các sự cố do việc bảo quản của việc cung cấp nước hoặc làm lạnh nước.
 
 
 
 
Đặc điểm

 
1. Thân của bộ sau làm lạnh
2. Bệ máy
3. Máng tự động (tùy chọn)
4. Thiết bị đầu ra
5. Bộ lọc bụi (có làm mát bên trong)
6. Đồng hồ đo nhiệt ( HAA15-X41)
Thông số kỹ thuật

 
BÌNH CHỨA KHÍ

 
 

Đây là một bình chứa khí lớn hơn dựng đứng để giữ cho áp suất khí nén từ 0.45MPa đến 0.7MPa. Khí sau khi được làm sạch và được điều chỉnh áp suát sẽ được cung cấp cho đầu ra khí thông qua các đường ống khí y tế trong bệnh viện. Có các bình dựng đứng loại 280l, 430l, 700l, và 1240l. một loại phù hợp sẽ được chọn dựa vào khả năng sử dụng, công suất máy (kw)
 

 
 
Đặc điểm


•Một chuyển mạch áp suất cài đặt chế độ xen kẽ tự động và điều chỉnh song song sẽ được lắp đặt vào bình. Thình thoảng các công tắc áp suất sẽ được đặt ở cị trí khác
•Van an toàn trong bình mở và giảm áp suất khi áp suất trong bình đạt tới 0.85MPa
•Van xả để xả nước đọng ra ngoài một cách đều đặn
•Áp suất lớn nhất được kiểm tra tại 0.97MPa
•Làm bằng hợp kim thép được sơn chống ăn mòn
 
1. Thân bình
2. Đầu vào khí
3. Đầu ra khí
4. Van an toàn
5. Ổ lấy khí  cho công tắc áp suất
6. Lỗ kiểm tra
7. Lỗ làm sạch
8. Van xả nước đọng
9. đồng hồ áp suất
 
Thông số kỹ thuật

 
SƠ ĐỒ LẮP GIÁP

 
 

Công nghệ mới làm sạch phân bón

Công ty Green Mountain và Trường Đại học Vermont, Mỹ đang đưa vào sử dụng một loại công nghệ mới làm sạch phân bón trước khi bón cho cây trồng. Công nghệ mới này có tác dụng làm giảm bớt ô nhiễm không khí và nước.

Công nghệ này do một thương gia có tên là Colchester.

Ông này đã bán cho Công ty Green Mountain và Trường Đại học Vermont, Mỹ một chiếc máy làm sạch phân bón bằng cách dùng điện tiêu diệt những con vi khuẩn và mùi hôi của phân bón trước khi bón cho cây trồng.

Bằng công nghệ tiêu diệt vi khuẩn bằng điện, các chất lỏng phân bón được chạy qua một cái ống lớn có điện để phát hiện những tế bào vi khuẩn và tiêu diệt. Công nghệ này có thể tiêu diệt được 90 - 95% tỷ lệ vi khuẩn và hơn 20% mùi hôi của phân bón.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho biết phân bón sẽ giữ lại những các chất dinh dưỡng cần sử dụng cho cây trồng. Hai thành phần phốt pho và ni tơ trong phân bón là các chất dinh dưỡng làm tăng độ phì nhiêu của đất cho hai loại cây trồng ngô và cỏ.

Ông Buzz Hoerr, chủ tịch công nghệ tiêu diệt vi khuẩn bằng điện cho biết "Tôi luôn nói với người nông dân rằng đây không phải là một viên đạn bạc. Công nghệ này sẽ không làm giảm ô nhiễm nguồn nước có sẵn ở trang trại. Để có thêm được điều này cần phải tiến hành thêm một công đoạn nữa".

Công ty của ông đã sản xuất chiếc máy làm sạch phân di động và bán cho Công ty Green Mountain Power với giá 75.000 đô la Mỹ. Các nhà nghiên cứu Trường Đại học Vermont đang thử nghiệm công nghệ này tại các trang trại ở Miền đông Montpelier và Miền nam Burlington, Mỹ.

Phó Giám đốc Công ty Green Mountain cho biết "Bằng cách này người nông dân không phải đầu tư một khoản tiền lớn để mua máy".

Công nghệ sử lý làm sạch phân bón trước khi bón cho cây trồng này có hiệu quả hơn so với quá trình xử lý của cây trồng. Đó là một vấn đề khiến cho các nhà nghiên cứu Trường Đại học Vermont tiếp tục nghiên cứu.

Biến sương thành nước


Hai kiến trúc sư Israel đã thiết kế một thiết bị đơn giản có khả năng hứng những giọt sương trong không khí và xử lí thành nước sạch. Một thiết bị hữu ích để cung cấp nước sạch cho mọi người, đặc biệt ở nơi khô hạn.

Hai kiến trúc sư nói trên đang theo đuổi bằng Thạc sĩ tại Viện công nghệ Techni-Israel (Technion-Israel Institute of Technology).

Thiết bị này được đặt tên là WatAir, do hai cựu sinh viên Joseph Cory và Eyal Malka của Trường Technion Architecture and Building Planning (chuyên về kiến trúc và xây dựng) thiết kế và chế tạo. Nó có thể chiết xuất ít nhất là 48 lít nước sạch từ không khí mỗi ngày, với diện tích của nó khoảng 29,2m2.

Thiết bị này là những tấm lưới được ghép lại có thể tập hợp những giọt sương trong không khí và chuyển thành nước sạch ở hầu hết các điều kiện khí hậu. Tùy thuộc vào số lượng được sử dụng của thiết bị này, người ta có thể thu được một nguồn nước dồi dào, thậm chí là ở cả những vùng xa xôi hẻo lánh và những nơi bị ô nhiễm.





Thiết bị tích tụ hơi nước trong không khí, rất đơn giản mà hiệu quả. (Ảnh: Softpedia News)




Việc sử dụng thiết bị này đều rất dễ dàng ở cả những khu vực nông thôn và thành thị, nhờ vào kích thước khá nhỏ gọn, cũng như thiết kế khung thẳng đứng và đường chéo để tận dụng trọng lực nhằm tăng diện tích tích tụ nước.

Những tấm lắp ghép khá linh hoạt là nơi tích tụ nước của thiết bị này cũng rất dễ dàng hủy bỏ khi không sử dụng nữa, và chúng còn là nơi che mưa nắng, tạo bóng mát cho trẻ con chơi đùa. Nhờ những tính năng đó, đây là một trong những thiết bị dễ được đưa vào sử dụng nhất tại những khu vực nghèo khó, những nơi mà các thiết bị có kích thước lớn, đắt tiền là ngoài tầm tay của người dân.

Sản xuất xăng từ không khí

Ngày 20/10, Cty Air Fuel Synthesis của Anh tuyên bố vừa sản xuất được 5 lít xăng bằng phương pháp tổng hợp khí carbon dioxide (CO2) và hơi nước.

Công ty hy vọng rằng, vào năm 2014 sẽ xây dựng được một nhà máy quy mô thương mại để xuất xưởng một tấn xăng mỗi ngày và mở rộng sang lĩnh vực sản xuất nhiên máy bay để ngành hàng không thân thiện với môi trường hơn.



Công nghệ sản xuất liên quan việc trộn không khí với sodium hydroxide, sau đó điện phân sodium carbonate vừa tạo ra để giải phóng carbon dioxide tinh khiết. Khí này sau đó phản ứng với hydrogen được sinh ra sau khi điện phân nước, để tạo ra hỗn hợp hydrocarbon.

Loại nhiên liệu vừa được sinh ra có thể chứa trong bồn và dùng được luôn nếu cho thêm các loại phụ gia mà thế giới đang dùng. Ngoài ra, loại nhiên liệu này có thể dùng để trộn với dầu hỏa, dầu diesel hoặc xăng máy bay.

Hiện nay, chi phí sản xuất quá cao: mất 400 bảng Anh để tạo ra được 1 tấn carbon dioxide. Air Fuel Synthesis vẫn đang phát triển quy trình lọc không khí để tổng hợp xăng và vẫn cần dùng điện từ lưới điện quốc gia để sản xuất loại nhiên liệu này.

Cty tin rằng, sau này có thể dùng các nguồn năng lượng tái tạo thay cho điện để cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp xăng từ không khí từ không khí.